ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật sư tư vấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật sư tư vấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2023

Tiêu tiền mình nhặt được có vi phạm pháp luật hình sự không?

Tiêu tiền mình nhặt được có vi phạm pháp luật hình sự không?


Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 được bổ sung bởi điểm d khoản 1 điều 2 Bộ luật Hình sự sửa đổi 2017 quy định về tội chiếm giữ tài sản trái phép như sau: "Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa, bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm"

Như vậy, trường hợp nhặt được tiền nhưng cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc cơ quan có trách nhiệm, tùy thuộc vào số tiền mà người nhặt được có thể đưa ra mức phạt.

 For Clients Speaking English

ANT Lawyers is an international law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City with international standards, recognized by IFLR1000. We are Vietnam exclusive member of Prae Legal, an international law firm network, providing full ranges of legal services.

Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam. 

Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Đà Nẵng khẩn trương triển khai giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp

Ngày 14 tháng 9 năm 2020, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng (“UBND Thành phố”) ban hành Công văn số 6125/UBND-SKHĐT liên quan đến kiến nghị của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tại Đà Nẵng.

Theo đó, UBND thành phố đề nghị các sở, ban, ngành, UBND quận, huyện triển khai nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp do ngành, đơn vị, địa phương đang triển khai thực hiện, tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để các doanh nghiệp có nhu cầu dễ dàng tiếp cận thông tin và thụ hưởng chính sách.

Đối với những chính sách thuộc thẩm quyền điều chỉnh của Trung ương đang được các đơn vị triển khai thực hiện có các quy định về đối tượng, tiêu chí, điều kiện áp dụng còn nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, không có nhiều doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện để được hưởng chính sách, đề nghị các đơn vị nghiên cứu, có kiến nghị cụ thể với Trung ương để kịp thời điều chỉnh, bảo đảm chính sách được triển khai có hiệu quả trên thực tế; chủ động có văn bản gửi đến các hội, hiệp hội doanh nghiệp để các hội được nắm thông tin đầy đủ, làm cơ sở phổ biến đến các doanh nghiệp hội viên.

Đối với chính sách hỗ trợ về lãi vay và chính sách hỗ trợ cấp bách cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng do Covid-19, đề nghị Sở Tài chính, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Cục Thuế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – chi nhánh Đà Nẵng, Bảo hiểm Xã hội thành phố, Quỹ Đầu tư và Phát triển thành phố và các đơn vị liên quan khẩn trương triển khai thực hiện để hỗ trợ doanh nghiệp sớm vượt qua khó khăn và ổn định sản xuất, kinh doanh.

Như vậy, thành phố Đà Nẵng đã và đang thực hiện nhiều chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn; đặc biệt, trong bối cảnh vừa phòng chống dịch Covid-19 vừa phát triển kinh tế như hiện nay.

Công ty Luật TNHH ANT (ANT Lawyers) là công ty luật Việt Nam cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp tại Việt Nam. ANT Lawyers do các luật sư và cộng sự có kinh nghiệm và chuyên môn cao về pháp lý điều hành. Chúng tôi cung cấp luật sư nói tiếng Anh khi có yêu cầu

Thứ Hai, 31 tháng 5, 2021

Đà Nẵng trở thành Trung tâm tài chính của miền Trung Việt Nam


Cuối năm 2020, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có đề xuất xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành trung tâm tài chính quy mô khu vực với số vốn đầu tư 47.000 tỉ đồng theo văn bản 8919/BKHĐT-KTĐPLT ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng.


Mục đích của Đà Nẵng là “xây dựng trung tâm hành chính quy mô khu vực” đóng vai trò trong việc thu hút và chuyển tải vốn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, Đà Nẵng cũng đề xuất một số lĩnh vực cần có cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút doanh nghiệp thành lập và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, khởi nghiệp sáng tạo, đào tạo nhân lực và thu hút nhân lực chất lượng cao.

UBND TP Đà Nẵng cũng đề xuất xây dựng Đề án bao gồm nhiều dự án đầu tư thuộc nhiều lĩnh vực, trong đó tập trung vào dự án Khu phức hợp trung tâm tài chính thương mại có khu vui chơi giải tri, casino và chung cư cao cấp (thuộc danh mục dự án trọng điểm thu hút đầu tư giai đoạn 2021 – 2025) được xây dựng trên tổng diện tích khoảng 8,4ha tại đường Võ Văn Kiệt với vốn đầu tư khoảng 47.000 tỉ đồng huy động của các nhà đầu tư.

Đà Nẵng có mục tiêu xây dựng trở thành một trong những trung tâm kinh tế-xã hội lớn của cả nước và Đông Nam Á, với vai trò là trung tâm về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công nghiệp công nghệ cao, CNTT, công nghiệp hỗ trợ. Bên cạnh đó với vị trí nằm ở miền Trung Việt Nam và là thành phố trực thuộc Trung ương trong 24 năm, Đà Nẵng là nơi tập trung nguồn nhân lực chất lượng cao của miền Trung và Tây Nguyên.

Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định “Việt Nam có múi giờ khác biệt so với 21 trung tâm tài chính lớn nhất toàn cầu. Đây là lợi thế riêng có và đặc biệt trong việc thu hút dòng vốn nhàn rỗi trong thời gian nghỉ giao dịch từ các trung tâm này”.

Bên cạnh đó, Đà Nẵng là thành phố có quy mô nền kinh tế lớn nhất Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có tốc độ tăng trưởng và quy mô GDP/đầu người thuộc nhóm cao nhất cả nước, đứng thứ 8/63 tỉnh, thành về mật độ kinh tế, đứng 9/63 về nguồn thu ngân sách.

Đà Nẵng được định hướng phát triển trở thành đô thị sinh thái hiện đại, thông minh, thành phố đáng sống có lợi thế về hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ về đường biển, đường bộ và đường hàng không. Có khoảng cách 3 giờ bay với các nền kinh tế năng động như Bangkok, Malaysia, Singapore, Manila, Đài Loan, Quảng Châu và Hồng Kông.

Công ty Luật TNHH ANT (ANT Lawyers) là công ty luật Việt Nam cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp tại Việt Nam. ANT Lawyers do các luật sư và cộng sự có kinh nghiệm và chuyên môn cao về pháp lý điều hành. Chúng tôi cung cấp luật sư nói tiếng Anh khi có yêu cầu.

Thứ Năm, 20 tháng 5, 2021

Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN

Do hợp tác kinh tế được mở rộng nên việc có một cơ chế hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên đã trở nên một nhu cầu thiết yếu. Chính vì vậy, từ năm 1996, ASEAN đã bắt đầu soạn thảo Nghị định thư về Cơ chế Giải quyết Tranh chấp, và Nghị định thư này đã được các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN ký ngày 20/11/1996 tại Manila (Philippines).


Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN được xây dựng trên tinh thần thương lượng, hoà giải. Vào bất kỳ thời điểm nào, các nước thành viên là các bên tranh chấp cũng được quyền lựa chọn các hình thức dàn xếp, hoà giải hoặc trung gian hoà giải. Các hình thức này có thể bắt đầu vào bất kỳ lúc nào và cũng có thể chấm dứt vào bất kỳ lúc nào. Chỉ khi thủ tục dàn xếp, hoà giải hoặc trung gian hoà giải đã chấm dứt thì bên khiếu nại mới được tiến hành đưa vấn đề lên Hội nghị quan chức kinh tế cấp cao của các quốc gia ASEAN (SEOM). Trong khi tranh chấp đang diễn ra, nếu các bên tranh chấp đồng ý thì các thủ tục trung gian hoà giải vẫn được tiếp tục áp dụng.

Nếu tham vấn không giải quyết được tranh chấp trong vòng sáu mươi (60) ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn, thì vấn đề này sẽ được trình lên SEOM. SEOM sẽ thành lập Ban hội thẩm hoặc nếu có thể, chuyển vấn đề cho ban chuyên trách phụ trách các quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung để xem xét. Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể, nếu thấy cần thiết thì SEOM có thể quyết định xử lý tranh chấp một cách hữu nghị mà không phải chỉ định Ban hội thẩm.

SEOM sẽ xem xét báo cáo của Ban hội thẩm trong quá trình thảo luận của mình và đưa ra phán xử về tranh chấp trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày Ban hội thẩm trình báo cáo. Trong các trường hợp ngoại lệ, SEOM có thể có thêm mười (10) ngày nữa trong việc đưa ra phán xử về việc giải quyết tranh chấp. Các đại diện SEOM của các nước thành viên là các bên tranh chấp có thể có mặt trong quá trình thảo luận nhưng không được tham gia vào việc đưa ra phán xử của SEOM. SEOM sẽ ra phán xử trên cơ sở đa số.

Các nước thành viên là các bên tranh chấp có thể kháng nghị lại phán xử của SEOM với Các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (“AEM”) trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày SEOM ra phán xử. AEM phải đưa ra quyết định trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày có kháng nghị. Trong các trường hợp ngoại lệ, AEM có thể có thêm mười (10) ngày nữa để đưa ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp.

Công ty Luật TNHH ANT (ANT Lawyers) là công ty luật Việt Nam cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp tại Việt Nam. ANT Lawyers do các luật sư và cộng sự có kinh nghiệm và chuyên môn cao về pháp lý điều hành. Chúng tôi cung cấp luật sư nói tiếng Anh khi có yêu cầu.

Quy định mới về thử việc

Thử việc là thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm thử công việc trong một khoảng thời gian nhất định tuân thủ theo quy định của pháp luật. Trước khi giao kết hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về giai đoạn thử việc để quyết định sự hợp tác, gắn bó lâu dài giữa người lao động với người sử dụng lao động. Thử việc cần tuân thủ quy định của Bộ luậtLao động và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 ban hành một số quy định mới liên quan đến thử việc.



Bộ luật Lao động năm 2012 không đề cập đến việc thỏa thuận nội dung thử việc trong hợp đồng lao động. Theo đó, người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Từ những quy định trong Bộ luật Lao động 2012 dẫn đến cách hiểu rằng, người lao động và người sử dụng nên lập hợp đồng thử việc riêng. Thử việc hoàn tất và người lao động đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của người sử dụng lao động, hai bên mới giao kết hợp đồng lao động. Theo quy định mới nhất trong Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc. Quy định này đã làm rõ hình thức giao kết hợp đồng thử việc, theo đó thử việc có thể giao kết một hợp đồng riêng rẽ hoặc trở thành một trong những điều khoản của hợp đồng lao động. Đối với trường hợp nội dung thử việc được ghi trong hợp đồng lao động thì khi kết thúc thời gian làm thử việc, nếu người lao động thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết. Nếu các bên thỏa thuận bằng hợp đồng thử việc thì giao kết hợp đồng lao động mới.

Liên quan đến các trường hợp giao kết hợp đồng thử việc, người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng không áp dụng thử việc. Ngoài ra, quy định người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc đã được bãi bỏ do hiện tại không còn hình thức hợp đồng lao động mùa vụ trong luật.

Bên cạnh đó, thời hạn thử việc trước đây được giới hạn không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên. Hiện tại, thời hạn thử việc được cho phép đối với những người quản lý doanh nghiệp có thể lên tới 180 ngày. Luật Lao động đã phân định giới hạn thời gian thử việc dựa vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc. Trong đó, người quản lý doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động kinh doanh bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty (áp dụng đối với các doanh nghiệp không có vốn nhà nước).

Một sửa đổi khác đối đối với việc hủy bỏ thỏa thuận thử việc, Bộ luật Lao động 2019 đã bãi bỏ giới hạn quyền hủy bỏ này. Theo đó, trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường. Ngược lại, người lao động và người sử dụng lao động chỉ có thể hủy bỏ thỏa thuận lao động nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận theo Bộ luật Lao động 2012.

Quá trình thử việc là bước đệm cho việc tiến tới ký kết hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động nhằm đảm bảo sự phù hợp về năng lực và kinh nghiệm của người lao động đáp ứng yêu cầu của người sử dụng la động. Các doanh nghiệp với tư cách là người sử dụng lao động cần nắm rõ các nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động cũng như hợp đồng thử việc để tránh xảy ra tranh chấp lao động hoặc nếu có tranh chấp thì nên tham khảo ý kiến luật sư chuyên về tranh chấp sớm để hoả giải hoặc có phương án tranh chấp phù hợp, hiệu quả.

Công ty Luật TNHH ANT (ANT Lawyers) là công ty luật Việt Nam cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp tại Việt Nam. ANT Lawyers do các luật sư và cộng sự có kinh nghiệm và chuyên môn cao về pháp lý điều hành. Chúng tôi cung cấp luật sư nói tiếng Anh khi có yêu cầu.

Thứ Hai, 17 tháng 5, 2021

Quy trình giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư theo quy định mới

 Quy trình giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư (đồng thơi là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) theo quy định mới

-Trường hợp chỉ yêu cầu thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp thực hiện thủ tục tại Cơ quan đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Hồ sơ, trình tự, thủ tục thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh thực hiện theo quy định tương ứng của Luật doanh nghiệp 2014. 

Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để thay thế nội dung đăng ký kinh doanh tại Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh). Nội dung đăng ký kinh doanh tại quy định Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) hết hiệu lực kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; nội dung dự án đầu tư tại Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) tiếp tục có hiệu lực.

-Trường hợp doanh nghiệp có yêu cầu thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh do nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp quy định tại Khoản 1 Điều 26 Luật đầu tư 2014, nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp theo quy định tại Điều 26 Luật đầu tư 2014 trước khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

-Trường hợp chỉ yêu cầu điều chỉnh nội dung dự án đầu tư, doanh nghiệp thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại Cơ quan đăng ký đầu tư. Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thực hiện theo quy định của Luật đầu tư 2014 tương ứng với nội dung điều chỉnh.

Cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho doanh nghiệp thay thế cho nội dung dự án đầu tư trong Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh). Nội dung đăng ký kinh doanh tại Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) tiếp tục có hiệu lực.

-Trường hợp có yêu cầu điều chỉnh cả nội dung đăng ký kinh doanh và nội dung dự án đầu tư, nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh nội dung đăng ký kinh doanh tại Cơ quan đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; sau đó điều chỉnh nội dung dự án đầu tư tại Cơ quan đăng ký đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tương ứng nêu tại Điểm a và b Mục này. 

-Trường hợp có yêu cầu đổi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay cho Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh), nhà đầu tư thực hiện thủ tục đổi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Cơ quan đăng ký kinh doanh, sau đó đổi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại Cơ quan đăng ký đầu tư.

Hồ sơ đổi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp gồm văn bản đề nghị đổi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, bản sao Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) và Giấy chứng nhận đăng ký thuế.

Hồ sơ đổi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gồm văn bản đề nghị đổi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đã cấp theo Điểm này) và Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh).

Cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ quan đăng ký đầu tư đổi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quy định lại nội dung đăng ký kinh doanh đang có hiệu lực tại Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh); Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư quy định lại nội dung dự án đầu tư đang có hiệu lực tại Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh).

Công ty Luật TNHH ANT (ANT Lawyers) là công ty luật Việt Nam cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp tại Việt Nam. ANT Lawyers do các luật sư và cộng sự có kinh nghiệm và chuyên môn cao về pháp lý điều hành. Chúng tôi cung cấp luật sư nói tiếng Anh khi có yêu cầu.

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2021

Những lợi thế thu hút FDI của Việt Nam trong năm 2021

Trong năm 2020, do ảnh hưởng của dịch covid-19, chuỗi cung ứng toàn cầu đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đã kéo theo việc dịch chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc diễn ra nhanh chóng. Trong đó, có bốn lĩnh vực mà các tập đoàn có xu hướng dịch chuyển sang Việt Nam, thành lập công ty, xin giấy phép đầu tư là công nghệ thông tin và công nghệ cao, thiết bị điện tử, thương mại điện tử và logistics, hàng tiêu dùng và bán lẻ.


Một số doanh nghiệp lớn trên thế giới bắt đầu tuyển dụng, tìm kiếm chuỗi cung ứng, và Việt Nam là một trong những điểm đến trong quá trình dịch chuyển bên cạnh các quốc gia khác trong khu vực như Indonesia, Thailand hay Malaysia.

Việt Nam với lợi thế ở gần Trung Quốc, thuận lợi cho việc dịch chuyển đầu tư, máy móc thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, việc có các chính sách thu hút FDI từ Việt Nam sẽ khiến cho các nhà đầu tư quốc tế dễ dàng trong việc thực hiện dịch chuyển đầu tư.

Đồng thời, Việt Nam cũng tham gia nhiều các Hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới sẽ giúp cho việc hợp tác trở nên thuận lợi hơn. Ngoài ra, việc ổn định trong giá trị đồng Việt Nam cũng là một điểm mạnh thu hút đầu tư quốc tế.

Dữ liệu của các hãng môi giới bất động sản công nghiệp so sánh tỷ lệ lấp đầy và giá thuê các khu công nghiệp ở các nước Đông Nam Á trong quý 1 vừa qua cho thấy Việt Nam có mức giá thuê trung bình thấp hơn 45-50% so với các nước Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Theo báo cáo của năm 2019, chi phí lao động của Việt Nam cũng thấp hơn so với Thái Lan, Malaysia và Indonesia, bên cạnh đó, nguồn lao động tại Việt Nam ngày càng dồi dào và chất lượng lao động ngày càng tăng.

Về giá điện, theo EVN, so sánh giá điện năm 2019 của Việt Nam so với các nước trong khu vực được thống kê cho thấy, giá điện của Việt Nam đạt mức 80% so với giá điện của Indonesia; 42,1% so với giá điện của Philippine và 66,7% so với giá điện của Campuchia.

Ngoài ra, với việc áp dụng các chính sách hỗ trợ như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, hỗ trợ thuê đất, cung ứng nguồn lao động cùng với việc giảm bớt các thủ tục hành chính, Việt Nam xứng đáng trở thành điểm đến đầu tư lý tưởng hiện nay.

Công ty Luật TNHH ANT (ANT Lawyers) là công ty luật Việt Nam cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp tại Việt Nam. ANT Lawyers do các luật sư và cộng sự có kinh nghiệm và chuyên môn cao về pháp lý điều hành. Chúng tôi cung cấp luật sư nói tiếng Anh khi có yêu cầu.


Thứ Ba, 27 tháng 4, 2021

Người nước ngoài có thể ủy quyền thực hiện chuyển nhượng nhà ở đã mua tại Việt Nam không?

Trong tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang có những diễn biến phức tạp, Chính Phủ vẫn tiếp tục thực hiện các chính sách hạn chế nhập cảnh vào Việt Nam nên có rất nhiều giao dịch bị hủy hoặc bị hoãn lại. Điều đó đã gây ra không ít trở ngại cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài có nhu cầu thực hiện giao dịch tại Việt Nam. Trong bài viết này chúng tôi đề cập đến giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở đối với cá nhân nước ngoài khi không thể nhập cảnh vào Việt Nam để tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng và các giao dịch có liên quan khác.


Căn cứ theo pháp luật về nhà ở, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, trước khi hết hạn sở hữu nhà thì chủ sở hữu có thể tặng cho hoặc bán nhà ở này cho các đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; nếu quá thời hạn được sở hữu nhà ở mà chủ sở hữu không thực hiện bán, tặng cho thì nhà ở đó thuộc sở hữu nhà nước. Về thời hạn sở hữu nhà, nếu tổ chức, cá nhân nước ngoài bán hoặc tặng cho nhà ở cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì bên mua, bên nhận tặng cho được sở hữu nhà ở ổn định lâu dài. Trường hợp bán hoặc tặng cho nhà ở cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì bên mua, bên nhận tặng cho chỉ được sở hữu nhà ở trong thời hạn còn lại; khi hết thời hạn sở hữu còn lại mà chủ sở hữu có nhu cầu gia hạn thêm thì được Nhà nước xem xét, gia hạn thêm. Bên bán nhà ở phải nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo quy định của pháp luật về điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở thì bên bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại phải có điều kiện sau đây:

-Là chủ sở hữu nhà ở hoặc người được chủ sở hữu cho phép, ủy quyền để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở và pháp luật về dân sự; trường hợp chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải là người đã mua nhà ở của chủ đầu tư hoặc người đã nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở;


-Nếu là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự; nếu là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân.

Điều 195 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật.”

Khoản 2 Điều 55 Luật Công chứng 2014 quy định: “Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền”.

Như vậy, để có thể thực hiện giao dịch mua bán nhà ở, các bên tham gia giao dịch nhà ở cần thỏa thuận lập hợp đồng mua bán hoặc văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại. Trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở là người nước ngoài không thể nhập cảnh trực tiếp tham gia ký kết hợp đồng thì có thể ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác ở Việt Nam thực hiện thay. Tuy nhiên, văn bản ủy quyền cần phải được công chứng tại cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp văn bản ủy quyền được công chứng tại cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài thì cần phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định thì văn bản đó mới có thể được sử dụng tại Việt Nam.

 

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2021

Chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Chấm dứt hợp đồng lao động là sự kiện chấm dứt quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trong đó, có nhiều trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định như: hết hạn hợp đồng lao động, đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động, hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã,….



Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động. Cụ thể, phương án sử dụng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: Danh sách và số lượng người lao động tiếp tục được sử dụng, người lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng; danh sách và số lượng người lao động nghỉ hưu; danh sách và số lượng người lao động được chuyển sang làm việc không trọn thời gian; người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động và các biện pháp và nguồn tài chính bảo đảm thực hiện phương án.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động. Theo đó, người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó, tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Lưu ý, việc chấm dứt đối với nhiều người lao động theo quy định trên chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.



Chi phí hẹn hò - Ai nên thanh toán???


Mình xin đưa ra quan điểm cá nhân ngắn gọn theo 2 khía cạnh nhé:

1/ Kinh tế:

a/ Trong quá khứ, đàn ông đóng vai trò chủ đạo về kinh tế trong gia đình, họ là nguồn thu nhập chính, hay thậm chí là duy nhất. Mọi công việc đều dành cho đàn ông, họ không vấp phải sự cạnh tranh việc làm với phái nữ.

Phụ nữ thời bấy giờ chưa trực tiếp làm ra tiền. Do đó nghĩa vụ thanh toán các chi phí giữa 2 người tất nhiên sẽ do đàn ông chi trả là điều đương nhiên.

b/ Hiện nay, việc phụ nữ có khả năng kiếm tiền 1 cách sòng phẳng hoặc thậm chí vượt trội so với bạn trai/chồng mình không còn là việc hiếm.

Cơ hội việc làm chia đều cho 2 giới, nói cách khác: miếng bánh việc làm hiện nay đã bị chia ra cho nữ giới. Nữ giới có quyền kiếm tiền và dĩ nhiên họ cũng phát sinh nghĩa vụ phải thanh toán chi phí.

Như vậy thì tại sao vẫn còn quan điểm mặc đinh trách nhiệm thanh toán trong các cuộc hẹn lại phải là phái đàn ông?

 

2/ Sự cố gắng và đóng góp:

Tất nhiên sau khi kết thúc mục 1, nhiều bạn sẽ có quan điểm: đàn ông thanh toán đề thể hiện sự galang, sự không keo kiệt, sự bản lĩnh có thể bảo vệ, chăm lo cho bạn gái ,..... bla bla.

Quan điểm cá nhân mình:

Khi tham gia vào 1 mối quan hệ, ai cũng muốn được quan tâm, tin tưởng và yêu thương. Việc mình luôn là người thanh toán dễ khiến đàn ông cảm thấy họ đang bị lợi dụng hoặc đây là quan hệ 1 chiều.

Cái chúng tôi cần không phải là các bạn share đều một cách “cạn tàu ráo máng”, mà là “sự cố gắng và đóng góp”.

Nói đơn giản: hãy làm mọi việc cùng nhau nhiều nhất có thể, hay đóng góp (cả về vật chất lẫn tinh thần) nhiều nhất có thể.

Giả sử khi cả 2 có ý định đi du lịch đâu đó, tổng chi phí chuyến đi là 10 triệu, nếu bạn gái có khả năng đóng góp 2 triệu, hãy chủ động đề xuất để được đóng góp. Bạn nam sẽ thấy rất vui vì bạn có “sự cố gắng và đóng góp” cho chuyến đi nói chung và mối quan hệ giữa 2 người nói riêng. Còn bạn nữ chắc chắn sẽ không cảm thấy mình bị phụ thuộc và mối quan giữa 2 bạn sẽ tuyệt vời hơn rất nhiều.

 

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

Thẩm quyền xử phạt vi phạm giao thông của Cảnh sát giao thông

Thẩm quyền xử phạt vi phạm giao thông của cảnh sát giao thông theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt


Căn cứ theo Điều 76 Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì thẩm quyền xử phạt vi phạm giao thông của Công an nhân dân (bao gồm Cảnh sát giao thông và các lực lượng khác) cụ thể như sau:

i) Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 400 ngàn đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 500.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt.

ii) Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 1,2 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 1,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt.

Nếu còn thắc mắc hoặc cần tư vấn, vui lòng gọi chúng tôi

iii) Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng Trạm Công an cửa khẩu, khu chế xuất có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 2 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 2,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền 2 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 2,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

iv) Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát giao thông; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt; Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 8 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 15 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền 8 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 15 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c và e khoản 1 Điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.

v) Giám đốc Công an cấp tỉnh có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 20 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 37,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền 20 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 37,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, đ và e Khoản 1 Điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.

vi). Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 40 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 75 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

– Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và e khoản 1 điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.

 

Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2021

Quy định của pháp luật về quyền cá nhân đối với hình ảnh

uyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình là quyền nhân thân cơ bản nằm trong nhóm các quyền dân sự của cá nhân, vậy pháp luật quy định như thế nào về quyền này?

Khoản 1 Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền cá nhân đối với hình ảnh như sau: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý. Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Như vậy, khi sử dụng hình ảnh của một người phải được người đó đồng ý, nếu tự ý sử dụng hình ảnh cá nhân, người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp sử dụng trái phép với mục đích phi lợi nhuận.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 còn quy định về các trường hợp được phép sử dụng hình ảnh mà không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ: “Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.

Như vậy, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình, theo đó, việc sử dụng hình ảnh cá nhân phải được sự đồng ý của người có hình ảnh. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ chỉ áp dụng với trường hợp vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng hoặc trong các hoạt động công khai công cộng mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Điều 51 nghị định 158/2013/NĐ-CP  quy định về mức phạt khi vi phạm các hoạt động cấm trong hoạt động quảng cáo, trong đó khoản 3 quy định: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: “Quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định; Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép”. Nghiêm trọng hơn, nếu trường hợp bên sử dụng hình ảnh cá nhân khi chưa được sự đồng ý có thể còn đối mặt với việc bị xử lý hình sự nếu rơi vào điểm b khoản 1 Điều 288 về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính.

 

Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2021

Khu Công nghệ cao Đà Nẵng- Thu hút đầu tư đầu năm 2021

Ngày 05/02/2021, Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư để đầu tư dự án Trung tâm Nghiên cứu, Phát triển và Sản xuất của một công ty Nhật Bản với tổng vốn đầu tư là 35 triệu đô la Mỹ, để thực hiện nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các lĩnh ực khoa học kỹ thuật và công nghệ các thế hệ robot, thiết bị bay không người lái, thiết bị năng lượng Hydro, thiết bị Nano, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), hệ thống lọc nước, hệ thống tải điện không dây và phát triển vật liệu mới.

 


Dự án cũng nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực công nghệ thông tin, thiết bị y tế, sản xuất mẫu (thử nghiệm) và sản xuất thiết bị không người lái, robot, thiết bị y tế nhằm mục đích thương mại sản phẩm và công nghệ sau khi nghiên cứu phát triển.

Từ đầu năm 2021 đến nay, Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng đã thu hút được 145 triệu USD nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nâng tổng vốn đăng ký đầu tư FDI vào Khu công nghệ cao Đà Nẵng đạt 536,1 triệu USD. Lũy kế đến nay, Khu công nghệ cao Đà Nẵng đã thu hút được 24 dự án, trong đó có 12 dự án trong nước và 12 dự án FDI.

Ngoài ra, vào ngày 16/02/2021, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý bổ sung khu công nghiệp hỗ trợ khu công nghệ cao Đà Nẵng với diện tích 58.531 ha. Điều này sẽ giúp Khu công nghệ cao mở rộng diện tích, giúp nhà đầu tư có thể dễ dàng thực hiện dự án.

Bên cạnh đó, thành phố Đà Nẵng có nhiều chính sách thu hút đầu tư vào Khu công nghệ cao như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, thuế nhập khẩu, hỗ trợ tìm nguồn lao động phù hợp,… đây là những lợi thế rất lớn để nhà đầu tư có thể thực hiện kinh doanh trong quá trình thực hiện đầu tư.

Hiện tại, Đà Nẵng đang thực hiện thu hút đầu tư đối với những dự án khoa học, công nghệ cao, vì vậy việc nhà đầu tư công nghệ cao thực hiện đầu tư tại Đà Nẵng sẽ được chính quyền tạo điều kiện tốt nhất để hỗ trợ thực hiện thủ tục đầu tư. Với những nỗ lực của mình, Đà Nẵng mong muốn Khu công nghệ cao Đà Nẵng sẽ sớm trở thành một “Thung lũng Silicon” trong tương lai.

 

Đà Nẵng – Boras (Thụy Điển) hợp tác trên lĩnh vực Giáo dục khoa học

Chiều 15-1, UBND thành phố Đà Nẵng phối hợp với chính quyền thành phố Boras (Thụy Điển) tổ chức Hội thảo trực tuyến về các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc, trong khuôn khổ dự án “Giáo dục khoa học vì sự phát triển bền vững tại Đà Nẵng” hợp tác giữa Đà Nẵng và Boras.


Dựa trên các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc, trong đó có mục tiêu phát triển giáo dục, môi trường, khoa học công nghệ là những mục tiêu Đà Nẵng quan tâm và phát triển. Thành phố mong muốn đảm bảo giáo dục chất lượng, rộng mở và công bằng và nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người, đảm bảo sự sẵn có và quản lý bền vững nguồn nước và cải thiện các điều kiện vệ sinh cho tất cả mọi người, xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc, đẩy mạnh công nghiệp hóa rộng mở và bền vững, khuyến khích đổi mới; có biện pháp khẩn cấp để chống lại biến đổi khí hậu và các tác động của nó, bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và các nguồn tài nguyên biển cho phát triển bền vững, bảo vệ, tái tạo và khuyến khích sử dụng bền vững các hệ sinh thái trên cạn, quản lý tài nguyên rừng bền vững, chống sa mạc hóa, chống xói mòn đất và mất đa dạng sinh học.

Đối với thành phố Boras-Thụy Điển, với mục tiêu phát triển bền vững, thành phố Boras tập trung thực hiện một số nội dung như: hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách; tăng cường thông tin, truyền thông, phát huy vai trò và sự tham gia của các bên liên quan, bố trí, huy động và tăng cường nguồn lực tài chính, tăng cường hợp tác quốc tế.

Đà Nẵng mong muốn dự án Giáo dục khoa học vì sự phát triển bền vững tại Đà Nẵng, được hợp tác giữa Đà Nẵng và Boras sẽ có những hoạt động cụ thể, góp phần nâng cao năng lực giáo dục khoa học, thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn với các mục tiêu phát triển bền vững tại thành phố.

Đà Nẵng và Boras đã thực hiện hợp tác từ nhiều năm nay, với nhiều chính sách thu hút, hỗ trợ các nhà đầu tư Thụy Điển, hiện nay đã có nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp Thụy Điển lựa chọn Đà Nẵng là điểm đến đầu tư tại Việt Nam, thành lập công ty, nhà máy, xin giấy phép đầu tư. Trong thời gian tới, Đà Nẵng-Boras mong muốn sẽ có nhiều nhà đầu tư từ Thụy Điển thực hiện đầu tư tại thành phố trong các dự án xử lý nước thải, chất thải rắn để tăng cường hơn nữa hợp tác đầu tư, giáo dục, khoa học giữa hai thành phố.