ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Hiển thị các bài đăng có nhãn giấy phép lao động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giấy phép lao động. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2022

Những khó khăn trong việc xin giấy phép lao động sau covid

Xuất phát từ sự hội nhập quốc tế và nhu cầu của thị trường lao động Việt Nam, số lượng người nước ngoài làm việc ở nước ta ngày càng tăng. Để đảm bảo sự bình ổn của thị trường lao động và sự quản lý, kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền, pháp luật yêu cầu người nước ngoài cần phải có giấy phép lao động để được làm việc ở nước ta, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt. Sau đại dịch Covid, quy trình xin giấy phép lao động cũng dần bình thường hóa trở lại. Tuy nhiên, người lao động nước ngoài vẫn gặp một số khó khăn trong quá trình xin giấy phép lao động.

Thứ nhất, Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động được quy định tại Điều 9 Nghị định 152/2020/NĐ-CP liệt kê nhiều văn bản, giấy tờ mà người lao động phải chuẩn bị. Trong đó, có điểm c yêu cầu: “Giấy chứng nhận sức khỏe hoặc giấy khám sức khỏe do cơ quan, tổ chức y tế có thẩm quyền của nước ngoài hoặc của Việt Nam cấp có giá trị trong thời hạn 12 tháng”. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid, sức khỏe của người lao động nói chung và người nước ngoài nói riêng trong nhiều trường hợp không đủ điều kiện để nhận Giấy chứng nhận sức khỏe. Hồ sơ của họ từ đó không được tiếp nhận do chưa đáp ứng được yêu cầu pháp luật đặt ra. Ngoài ra, số lượng lớn tài liệu phải chuẩn bị trong hồ sơ gây khó khăn cho cả người sử dụng lao động và người lao động. Để thu thập tất cả những tài liệu này không phải điều dễ dàng, đòi hỏi nhiều thời gian, chi phí và trải qua nhiều thủ tục, đặc biệt là khó khăn về ngôn ngữ khi có những tài liệu bằng tiếng nước ngoài. Khoản 10 Điều 9 Nghị định trên quy định về hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ của nước ngoài, chứng thực các bản sao. Dù biết quy định này giúp bảo đảm tính xác thực của các tài liệu song thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự chưa thật sự phổ biến nên không phải ai cũng biết thực hiện, dẫn tới việc mất nhiều thời gian.

Thứ hai, thời gian để được cấp giấy phép lao động khá dài với nhiều trình tự, thủ tục khác nhau. như xin chấp nhận nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, chuẩn bị hồ sơ, nộp hồ sơ. Đặc biệt, như đã phân tích ở trên, số lượng giấy tờ trong hồ sơ tương đối nhiều nên quá trình chuẩn bị cũng mất rất nhiều thời gian. Trong những trường hợp khẩn cấp, cần sử dụng người lao động nước ngoài ngay lập tức hoặc ngay trong một khoảng thời gian ngắn thì việc xin giấy phép sẽ cản trở nhu cầu này và gây khó khăn cho người sử dụng lao động. Do đó, cơ quan lập pháp cần xem xét rút ngắn trình tự thủ tục cấp giấy phép lao động cũng như đơn giản hóa hồ sơ cần nộp, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng lao động và người lao động; từ đó, khuyến khích người lao động nước ngoài chất lượng cao với nhiều kỹ năng, kinh nghiệm tham gia vào thị trường lao động Việt Nam.

Như vậy, hai khó khăn lớn nhất phải đối mặt khi xin cấp giấy phép lao động ở Việt Nam là: (1) yêu cầu quá nhiều giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ và (2) tốn thời gian với nhiều trình tự, thủ tục. Từ những khó khăn nêu trên, nhiều doanh nghiệp lo ngại trong việc sử dụng lao động nước ngoài hoặc sử dụng “chui” mà không xin giấy phép. Điều này khiến cho việc quản lý và kiểm soát thị trường lao động của cơ quan có thẩm quyền trở nên khó khăn hơn. Vì vậy, pháp luật nước ta cần cân nhắc chỉnh sửa những quy định điều chỉnh việc cấp giấy phép lao động. 

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Các trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động kể từ năm 2021

Ngày 30 tháng 12 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Trong đó, quy định người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động gồm:


Người lao động là chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên; Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên;

Người lao động di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới, bao gồm: kinh doanh, thông tin, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, tài chính, y tế, du lịch, văn hóa giải trí và vận tải;

Người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại;

Người lao động vào Việt Nam làm việc tại vị trí nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và không quá 03 lần trong 01 năm;

Người lao động vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ;

Người lao động vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để xử lý sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được;

Luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của Luật Luật sư; Người lao động được Bộ Ngoại giao cấp giấy phép hoạt động thông tin, báo chí tại Việt Nam theo quy định của pháp luật; Người được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận người lao động nước ngoài vào Việt Nam để giảng dạy, nghiên cứu;

Người lao động vào Việt Nam để cung cấp dịch vụ tư vấn về chuyên môn và kỹ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng, thẩm định, theo dõi đánh giá, quản lý và thực hiện chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) theo quy định hay thỏa thuận trong các điều ước quốc tế về ODA đã ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài;

Người lao động được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cử sang Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu tại trường quốc tế thuộc quản lý của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc Liên hợp quốc; các cơ sở, tổ chức được thành lập theo các hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, tham gia;

Người lao động vào Việt Nam thực hiện thỏa thuận quốc tế mà cơ quan, tổ chức ở Trung ương, cấp tỉnh ký kết theo quy định của pháp luật;

Người có hộ chiếu công vụ vào làm việc cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

Thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam;

Trường hợp theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

Trưởng văn phòng đại diện, dự án hoặc chịu trách nhiệm chính về hoạt động của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam;

Người lao động là tình nguyện viên;

Học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo ở nước ngoài có thỏa thuận thực tập trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam; học viên thực tập, tập sự trên tàu biển Việt Nam;

Người lao động là người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.

So với quy định tại Nghị định 11/2016/NĐ-CP, bổ sung thêm trường hợp người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại không thuộc trường hợp cấp giấy phép lao động. Bên cạnh đó, chỉ chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn; Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần phải có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên được xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2021.

Công ty Luật TNHH ANT (ANT Lawyers) là công ty luật Việt Nam cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp tại Việt Nam. ANT Lawyers do các luật sư và cộng sự có kinh nghiệm và chuyên môn cao về pháp lý điều hành. Chúng tôi cung cấp luật sư nói tiếng Anh khi có yêu cầu.

Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

Điều kiện để chuyên gia nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam

Ngày 30/12/2020, Nghị định 152/2020/NĐ-CP được ban hành quy định về người lao động nước ngoài làmviệc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc chotổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Nghị định 152 đã xác định rõ các hình thức và điều kiện để người lao động nước ngoài đủ điều kiện làm việc tại Việt Nam, đồng thời quy định về điều kiện được miễn giấy phép lao động, tuyển dụng người lao động nước ngoài, gia hạn và cấp lại giấy phép lao động.



Theo quy định hiện hành, công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam theo các hình thức sau: Thực hiện hợp đồng lao động; di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp; thực hiện các loại hợp đồng hoặc thỏa thuận về kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học kỹ thuật, văn hóa, thể thao, giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và y tế; nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng; chào bán dịch vụ; làm việc cho tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam được phép hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam; tình nguyện viên; người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại; nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật; tham gia thực hiện các gói thầu, dự án tại Việt Nam; thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam được phép làm việc tại Việt Nam theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Liên quan đến điều kiện để người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, Nghị định 152 có nhiều điểm mới đáng chú ý, theo khoản 3 Điều 3 của Nghị định này, người lao động nước ngoài là chuyên gia muốn làm việc tại Việt Nam thì phải có bằng đại học trở lên hoặc tương đương và có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc trong chuyên ngành được đào tạo phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam hoặc người lao động nước ngoài là chuyên gia phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm và có chứng chỉ hành nghề phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam. Có nhiều ý kiến cho rằng quy định này khiến nhiều chuyên gia nước ngoài khó có thể vào Việt Nam làm việc vì trên thực tế có rất nhiều người giàu kinh nghiệm nhưng không có bằng cấp, chứng chỉ phù hợp.

Các chuyên gia nước ngoài, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc kỹ thuật viên nước ngoài vào Việt Nam làm việc trong khoảng thời gian tối đa 30 ngày và không quá 03 lần trong một năm có thể được miễn giấy phép lao động. Các trường hợp thuộc diện được miễn giấy phép lao động (hoặc có giấy xác nhận được miễn giấy phép lao động) phải thông báo cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về thông tin cá nhân của người lao động nước ngoài và ngày bắt đầu/kết thúc làm việc dự kiến, ít nhất ba ngày trước ngày làm việc dự kiến đầu tiên tại Việt Nam.

Ít nhất 30 ngày kể từ ngày dự kiến sử dụng người lao động nước ngoài, người sử dụng lao động (trừ nhà thầu) có trách nhiệm xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được và báo cáo giải trình với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc. Trong quá trình thực hiện nếu thay đổi nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài thì người sử dụng lao động cũng phải báo cáo trước ít nhất 30 ngày.



Công ty Luật TNHH ANT (ANT Lawyers) là công ty luật Việt Nam cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp tại Việt Nam. ANT Lawyers do các luật sư và cộng sự có kinh nghiệm và chuyên môn cao về pháp lý điều hành. Chúng tôi cung cấp luật sư nói tiếng Anh khi có yêu cầu.