ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2023

Thủ tục cơ quan tư pháp Hoa Kỳ yêu cầu hỗ trợ thu thập chứng cứ trong lĩnh vực dân sự và thương mại

 Thủ tục cơ quan tư pháp Hoa Kỳ yêu cầu hỗ trợ thu thập chứng cứ trong lĩnh vực dân sự và thương mại

Công ước thu thập chứng cứ là Công ước đa phương của Hội nghị La Hay được ký ngày 18/3/1970 và có hiệu lực ngày 07/10/1972. Mục tiêu của Công ước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập chứng cứ và hài hòa hóa phương thức thu thập chứng cứ giữa các quốc gia.


Công ước thu thập chứng cứ ở nước ngoài có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 03/5/2020. Sau khi gia nhập Công ước này, Việt Nam chỉ áp dụng yêu cầu thu thập chứng cứ và chấp nhận thực hiện yêu cầu thu thập chứng cứ của các nước thành viên khác theo hình thức bằng văn bản yêu cầu quy định tại Chương I của Công ước này. Theo đó, Việt Nam không áp dụng hình thức thu thập chứng cứ thực hiện bởi viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự hoặc người được bổ nhiệm/ủy quyền.

Thủ tục thực hiện thu thập chứng cứ của Hoa Kỳ đối với Việt Nam theo Công ước La Hay

Cả Việt Nam và Hoa Kỳ đều tham gia Công ước thu thập chứng cứ, tuy nhiên vì Việt Nam chỉ tham gia phương thức thu thập chứng cứ bằng văn bản yêu cầu, do đó cơ quan tư pháp Hoa Kỳ muốn thu thập chứng từ tại Việt Nam thì phải thực hiện theo phương thức này.

Bước 1: Cơ quan Hoa Kỳ gửi văn bản yêu cầu thu thập chứng cứ tới Bộ Tư pháp Việt Nam

Khi giải quyết vụ án liên quan đến lĩnh vực dân sự hoặc thương mại, đương sự yêu cầu Tòa án đề nghị cơ quan tư pháp của Hoa Kỳ hỗ trợ thu thập chứng cứ tại Việt Nam. Theo đó, cơ quan tư pháp của Hoa Kỳ sẽ gửi yêu cầu bằng văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (cụ thể là Bộ Tư pháp) tiến hành thu thập chứng cứ. Văn bản này phải đảm bảo các nội dung tại Điều 3 Công ước, phải lập bằng tiếng Việt hoặc kèm theo bản dịch tiếng Việt. Văn bản yêu cầu sẽ được gửi qua đường bưu chính.

Bước 2: Bộ Tư pháp Việt Nam tiếp nhận văn bản yêu cầu thu thập chứng cứ

Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ tiếp nhận yêu cầu thu thập chứng cứ và phản hồi Cơ quan tư pháp của Hoa Kỳ về việc có hay không thực hiện yêu cầu thu thập chứng cứ. Trường hợp từ chối phải nêu rõ lý do thuộc Điều 12 Công ước này: lý do yêu cầu đó không thuộc phạm vi điều chỉnh trong lĩnh vực dân sự, thương mại của Công ước, việc thực hiện yêu cầu có thể phương hại đến chủ quyền và an ninh quốc gia đó,…

Bước 3: Bộ Tư pháp đề nghị các cơ quan có thẩm quyền thu thập chứng cứ

Sau khi xét thấy có đủ cơ sở để giải quyết yêu cầu của Cơ quan Hoa kỳ, Bộ Tư pháp sẽ gửi văn bản chấp nhận yêu cầu thu thập chứng cứ tới Hoa Kỳ và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền trong nước để thu thập chứng cứ.

Cơ quan Việt Nam sẽ gửi thông báo về thời gian và địa điểm, thủ tục thu thập chứng cứ được thực hiện tới cơ quan Hoa Kỳ để các bên liên quan và đại diện của họ, nếu có, có thể có mặt. Cán bộ tư pháp của cơ quan Hoa Kỳ có thể có mặt khi thực hiện Văn bản yêu cầu, việc có mặt này cần được sự cho phép trước của Cơ quan Việt Nam.

Ngoài ra, theo Điều 11 Công ước này, người được yêu cầu cung cấp chứng cứ có quyền từ chối thực hiện yêu cầu thu thập chứng cứ nếu pháp luật của Việt Nam yêu cầu hoặc Văn bản yêu cầu thu thập từ chối có nêu cụ thể về quyền từ chối này.

Bước 4: Bộ Tư pháp Việt Nam gửi văn bản trả lời về kết quả thu thập chứng cứ tới Cơ quan Hoa Kỳ

Sau khi nhận được kết quả thu thập chứng cứ từ các Cơ quan khác, Bộ Tư pháp gửi văn bản trả lời kết quả thu thập chứng cứ cho cơ quan Hoa Kỳ.

 

For reference in EnglishHow US Authorities Could Request for Help on Taking the Evidence in Vietnam for Civil or Commercial Matters?

 

For Clients Speaking English

ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2023

Doanh nghiệp có được sa thải người lao động vì lý do mang thai hoặc kết hôn?

 Doanh nghiệp có được sa thải người lao động vì lý do mang thai hoặc kết hôn?

Theo quy định tại khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 quy định về vấn đề bảo vệ thai sản như sau:




Điều 137. Bảo vệ thai sản

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

Như vậy, doanh nghiệp không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì một trong các lý do:

- Kết hôn;

- Mang thai;

- Nghỉ thai sản;

- Nuôi con dưới 12 tháng tuổi;

Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật thì khi đó, người sử dụng lao động có thể sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động.

Nếu doanh nghiệp sa thải người lao động vì lý do mang thai hoặc kết hôn thì có thể bị xử phạt như thế nào?

Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 28 Nghị định 12/2022/NĐ-CP nếu người sử dụng lao động có hành vi sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 20 triệu đồng.

Lưu ý: Ngoại trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

Đối với người sử dụng lao động là tổ chức (doanh nghiệp) thì mức phạt nêu trên sẽ được áp dụng gấp 02 lần theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

Như vậy, nếu trong năm 2023 doanh nghiệp có hành vi sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị phạt tiền từ 20 triệu đến 40 triệu đồng.

Khi nào doanh nghiệp có thể xử lý kỷ luật người lao động bằng hình thức sa thải?

Doanh nghiệp có thể áp dụng hình thức sa thải khi xử lý kỷ luật người lao động khi người lao động thuộc một trong 04 trường hợp được quy định tại Điều 125 Bộ luật Lao động 2019 cụ thể:

(1) Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;

(2) Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

(3) Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật;

(4) Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Lưu ý: Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Nguồn: Thư Viện Pháp Luật

For Clients Speaking English

ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam.

Xin cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho người nước ngoài

 Xin cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho người nước ngoài

Theo cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế và pháp luật đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để tiến hành các hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Tuy nhiên, trình tự thủ tục thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo đó, quá trình này gồm hai bước chính là (1) thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và (2) thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Nói cách khác, để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nhằm chính thức và hợp pháp tiến hành các hoạt động kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoài trước hết phải có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.


Về đăng ký đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư trừ trường hợp thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngành, nghề trong dự án đầu tư phải không thuộc ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài hoặc ngành, nghề cấm kinh doanh theo pháp luật về đầu tư. Sau đó, nhà đầu tư cần chuẩn bị Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư để nộp cho Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư. Hồ sơ bao gồm: Văn bản đề nghị cấp Giấy chứng nhận đầu tư; Báo cáo năng lực tài chính của Nhà đầu tư do Nhà đầu tư tự lập và chịu trách nhiệm; Bản giải trình khả năng đáp ứng điều kiện mà dự án đầu tư phải đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện; Giải trình kinh tế – kỹ thuật bao gồm các nội dung chủ yếu: mục tiêu, quy mô, địa điểm đầu tư, vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án, nhu cầu sử dụng đất, giải pháp về công nghệ và giải pháp về môi trường; Dự thảo Điều lệ công ty có đầy đủ chữ ký của người đại diện theo pháp luật, của các thành viên hoặc người đại diện theo ủy quyền; Danh sách thành viên; Văn bản xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư; Văn bản xác nhận khả năng tài chính. Cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Ở bước này, các điều kiện pháp lý không quá khắt khe và phức tạp như bước đầu song cũng đòi hỏi nhà đầu tư chuẩn bị nhiều giấy tờ, tài liệu. Tùy từng loại hình doanh nghiệp và nội dung đăng ký mà chủ thể đăng ký doanh nghiệp cần nộp các loại giấy tờ khác nhau phù hợp với yêu cầu của pháp luật. Nhà đầu tư có thể nộp hồ sơ trực tiếp ở Phòng Đăng ký kinh doanh hoặc nộp trực tuyến qua mạng điện tử. Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ hoặc tên doanh nghiệp yêu cầu đăng ký không đúng theo quy định, Phòng Đăng ký kinh doanh phải thông báo bằng văn bản nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.

Có thể nhận xét rằng, quy trình hai bước tạo ra trở ngại cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam. Nó như một rào cản về mặt pháp lý khiến họ e ngại, dè chừng và cân nhắc khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam. Vì vậy, cơ quan lập pháp cần xem xét rút gọn trình tự và cắt giảm số lượng tài liệu cần phải nộp, đồng thời, nên tiến hành trực tuyến hóa các thủ tục để tiết kiệm thời gian và nguồn nhân lực. Đặc biệt, do tồn tại sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài nên nhà đầu tư nước ngoài phải nghiên cứu và tìm hiểu kỹ quy định của luật Việt Nam.

For Clients Speaking English

ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam. 

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

Đầu Tư Ra Nước Ngoài Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam

 1.Thế nào là đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam?

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, sử dụng lợi nhuận thu được từ nguồn vốn đầu tư này để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ở nước ngoài.



Nhà nước khuyến khích đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác, phát triển, mở rộng thị trường; tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu ngoại tệ; tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản trị và bổ sung nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ quy định của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan, pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư (sau đây gọi là nước tiếp nhận đầu tư) và điều ước quốc tế có liên quan; tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động đầu tư ở nước ngoài.

2.Các hình thức đầu tư ra nước ngoài

Nhà đầu tư có thể tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài dưới một trong các hình thức sau:

– Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư;

– Đầu tư theo hình thức hợp đồng ở nước ngoài;

– Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lý tổ chức kinh tế đó;

– Mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài;

– Các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.

Nhà đầu tư cần lưu ý, để đầu tư ra nước ngoài với các hình thức kể trên, nhà đầu tư nước ngoài không được đầu tư vào các ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài sau:

– Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại Điều 6 của Luật Đầu tư và các điều ước quốc tế có liên quan.

– Ngành, nghề có công nghệ, sản phẩm thuộc đối tượng cấm xuất khẩu theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại thương.

– Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.

Để đầu tư kinh doanh ra nước ngoài, đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nhà đầu tư cần thỏa mãn các điều kiện riêng biệt được quy định đối với từng ngành nghề tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế về đầu tư mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các ngành nghề này bao gồm:

– Ngân hàng;

– Bảo hiểm;

– Chứng khoán;

– Báo chí, phát thanh, truyền hình;

– Kinh doanh bất động sản.

Cụ thể điều kiện đầu tư ra nước ngoài đối với các ngành nghề trên như sau:

Đối với các ngành, nghề ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, nhà đầu tư phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản.

Đối với ngành, nghề báo chí, phát thanh, truyền hình, nhà đầu tư là tổ chức đã được cấp phép hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình tại Việt Nam và được Bộ Thông tin và Truyền thông đồng ý bằng văn bản.

Đối với ngành, nghề kinh doanh bất động sản nhà đầu tư là doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp.

3.Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (“OIRC”)

Trong một số trường hợp nhất định, Nhà đầu tư muốn đầu tư ra nước ngoài phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định tại từ Điều 56 đến Điều 58 Luật Đầu tư 2020. Trường hợp không phải xin chấp thuận chủ trường đầu tư theo quy định của Luật đầu tư thì Nhà đầu tư tiến hành xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Để được cấp OIRC, nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phù hợp với nguyên tắc đầu tư tại Luật Đầu tư.

– Không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài quy định tại cấm đầu tư của Luật này và đáp ứng điều kiện đầu tư ra nước ngoài đối với ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện.

– Nhà đầu tư có cam kết tự thu xếp ngoại tệ hoặc có cam kết thu xếp ngoại tệ để thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài cửa tổ chức tín dụng được phép.

– Có quyết định đầu tư ra nước ngoài (đối với doanh nghiệp nhà nước).

– Có văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư. Thời điểm xác nhận của cơ quan thuế là không quá 03 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ dự án đầu tư.

4.Triển khai hoạt động đầu tư ở nước ngoài

Mở tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài

Nhà đầu tư mở tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài tại một tổ chức tín dụng được phép tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.

Mọi giao dịch chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài về Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.

Chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài

Nhà đầu tư có thể chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư khi đáp ứng các điều kiện sau:

– Đã được cấp OIRC (ngoại trừ trường hợp nhà đầu tư chuyển ngoại tệ, hàng hóa, máy móc, thiết bị ra nước ngoài trước khi được cấp OIRC để đáp ứng các chi phí cho hoạt động hình thành dự án đầu tư);

– Hoạt động đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại chấp thuận hoặc cấp phép. Trường hợp pháp luật nước sở tại không quy định việc cấp phép đầu tư hoặc chấp thuận đầu tư thì nhà đầu tư phải có tài liệu chứng minh quyền đầu tư tại nước sở tại;

– Có tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài.

Chuyển lợi nhuận về Việt Nam

Trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày quyết toán thuế hằng năm, nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ lợi nhuận thu được và các khoản thu nhập khác từ hoạt động đầu tư ra nước ngoài về Việt Nam. Trường hợp sử dụng lợi nhuận để tăng vốn đầu tư, mở rộng kinh doanh, thực hiện dự án đầu tư mới ra nước ngoài thì nhà đầu tư được giữ lại lợi nhuận thu được từ đầu tư ra nước ngoài để tái đầu tư.

Trường hợp nhà đầu tư không thể chuyển lợi nhuận và doanh thu về Việt Nam trong thời hạn quy định thì phải thông báo trước bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền. Thời hạn gia hạn chuyển lợi nhuận về Việt Nam không quá 12 tháng, kể từ ngày hết thời hạn quy định nêu trên.

Trường hợp hết thời hạn nhưng nhà đầu tư chưa chuyển lợi nhuận về Việt Nam mà không thông báo trước hoặc hết thời hạn mà nhà đầu tư chưa chuyển lợi nhuận về Việt Nam, nhà đầu tư sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Sử dụng lợi nhuận ở nước ngoài

Nhà đầu tư được giữ lại lợi nhuận thu từ đầu tư ở nước ngoài để tái đầu tư trong trường hợp sau đây:

– Tiếp tục góp vốn đầu tư ở nước ngoài trong trường hợp chưa góp đủ vốn theo đăng ký;

– Tăng vốn đầu tư ra nước ngoài;

– Thực hiện dự án đầu tư mới ở nước ngoài.

5.Quy định báo cáo về hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài sẽ được nhà nước giám sát thông qua báo cáo của các nhà đầu tư. Sau khi được cấp OIRC, nhà đầu tư được cấp tài khoản truy cập Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư để thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo quy định. Hiện nay, chế độ báo cáo của chủ đầu tư được thực hiện như sau:

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày dự án đầu tư được chấp thuận hoặc cấp phép theo quy định của pháp luật nước sở tại, nhà đầu tư phải nộp thông báo về việc thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài kèm theo tài liệu chứng minh quyền đầu tư tại nước sở tại;

Nhà đầu tư gửi báo cáo hàng quý và hàng năm về tình hình hoạt động của dự án đầu tư của mình;

Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày có quyết toán thuế hoặc văn bản khác có giá trị pháp lý tương đương theo quy định của pháp luật nước sở tại, nhà đầu tư phải nộp báo cáo tình hình hoạt động của dự án đầu tư trong năm tài chính theo quy định của pháp luật nước sở tại cũng như bảng kê khai và quyết toán thuế.

Cuối cùng, khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam cần tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước sở tại nơi thực hiện hoạt động đầu tư. Vì vậy, doanh nghiệp cần lưu ý những vấn đề này để tránh rủi ro pháp lý trong quá trình đầu tư ra nước ngoài. 


For Clients Speaking English

ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam. 

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2023

Nghị định 71/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định dịch vụ phát thanh, truyền hình

Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet là sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ truyền hình trên Internet của người dân thay cho các phương thức truyền thống trước đây. Dịch vụ truyền hình trên Internet cung cấp các chương trình trong nước, ngoài nước, phim ảnh… đã đem về nguồn doanh thu không nhỏ cho các doanh nghiệp trong nước cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình và các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ truyền hình xuyên biên giới có thu phí. Tuy nhiên, để đảm bảo tính công bằng về mặt pháp lý cho doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp nước ngoài cùng kinh doanh cung cấp dịch vụ này đến người sử dụng dịch vụ, vừa qua, ngày 01/10/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định 71/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2016 về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình. Nghị định được ban hành đã bổ sung các quy định mới về việc quản lý đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình, các nội dung nổi bật như sau:


Đối với chính sách quản lý, Nghị định quy định việc quản lý hoạt động cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình tại Việt Nam, bao gồm cả dịch vụ phát thanh, truyền hình trên mạng Internet cung cấp xuyên biên giới tới người sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam. Theo đó, các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình xuyên biên giới tại Việt Nam phải chịu sự quản lý và tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam.

Đối với loại hình dịch vụ phát thanh, truyền hình trên mạng internet (OTT TV), doanh nghiệp có thể lựa chọn 2 mô hình cung cấp dịch vụ: (i) OTT TV cung cấp cả kênh trực tuyến và nội dung theo yêu cầu (VOD) và (ii) OTT TV chỉ cung cấp VOD (OTT TV VOD). Đối với dịch vụ OTT TV VOD, doanh nghiệp không bắt buộc phải cung cấp các kênh chương trình như các dịch vụ truyền thống và chỉ cần thực hiện kê khai theo mẫu của Bộ Thông tin và Truyền thông, thay vì phải lập Đề án như trước đây để xin cấp giấy phép cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước có những điều kiện về kỹ thuật tương đương như doanh nghiệp nước ngoài, được tham gia cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình theo yêu cầu trên mạng internet. Doanh nghiệp nước ngoài có nhu cầu tham gia thị trường cũng phải thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép như doanh nghiệp trong nước.

Điểm nổi bật tiếp theo của Nghị định số 71/2022/NĐ-CP là bổ sung quy định về biên tập, phân loại, biên dịch nội dung phát thanh, truyền hình theo yêu cầu (VOD). Doanh nghiệp được chủ động biên tập, phân loại đối với các loại nội dung VOD là phim, chương trình thể thao, giải trí khi đáp ứng các điều kiện, tiêu chí theo quy định của cơ quan có thẩm quyền (trước đây, theo quy định tại Nghị định số 06/2016/NĐ-CP, tất cả nội dung VOD đều phải được cơ quan báo chí có giấy phép hoạt động phát thanh, truyền hình biên tập trước khi cung cấp trên dịch vụ). Theo đó, nội dung này cầu được phân thành 03 nhóm để thực hiện như sau:

(i) Đối với các chương trình tin tức, thời sự; các chương trình về chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội: phải được cơ quan báo chí có Giấy phép hoạt động phát thanh, truyền hình sản xuất, biên tập trước khi cung cấp trên dịch vụ;

(ii) Đối với phim: Trước khi cung cấp trên dịch vụ, doanh nghiệp phải đảm bảo điều kiện thực hiện phân loại phim theo quy định của Chính phủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung, kết quả phân loại phim theo tiêu chí phân loại do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; trường hợp doanh nghiệp chưa bảo đảm điều kiện thực hiện phân loại phim thì đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc cơ quan được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ủy quyền thực hiện phân loại đối với phim chưa được cấp Giấy phép phân loại phim hoặc Quyết định phát sóng;

(iii) Đối với chương trình thể thao, giải trí: Doanh nghiệp phải biên tập, phân loại trước khi cung cấp trên dịch vụ và hiển thị cảnh báo trong khi cung cấp dịch vụ, bảo đảm không vi phạm các điều cấm theo quy định pháp luật Việt Nam. Doanh nghiệp căn cứ nguyên tắc biên tập, phân loại và cảnh báo nội dung theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông và quy định của pháp luật liên quan để thực hiện hoạt động biên tập, phân loại.

Về quy định quản lý biên dịch, doanh nghiệp được chủ động trong hoạt động biên dịch. Biên dịch nội dung theo yêu cầu các chương trình nước ngoài, kênh chương trình nước ngoài doanh nghiệp phải đảm bảo tôn trọng, bảo tồn sự trong sáng của tiếng Việt, bảo đảm không vi phạm các điều cấm theo quy định pháp luật Việt Nam.

Ngoài việc bổ sung các quy định về chính sách quản lý, Nghị định 71/2022/NĐ-CP đã bổ sung các quy định nhằm giảm thiểu thủ tục hành chính, định hướng trực tuyến hóa các thành phần hồ sơ để giảm chi phí cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình. Theo đó, doanh nghiệp muốn xin cấp giấy phép (ví dụ như giấy phép cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền), sửa đổi, bổ sung nội dung giấy phép, cấp lại giấy phép, chỉ cần chuẩn bộ 01 (một) bộ hồ sơ (trước đây là hai bộ, 01 bộ bản chính, 01 bộ bản sao) và có thể nộp trực tuyến trên cổng cung ứng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Thông tin và Truyền thông (đối với các trường hợp có chứng thực điện tử). Bên cạnh đó, thời gian xử lý các thủ tục, hồ sơ trên cũng được rút ngắn đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi thực hiện các thủ tục hành chính được nhanh chóng, đảm bảo không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nghị định số 71/2022/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2023.

For reference in EnglishWhatChanges in Decree 71/2022/ND-CP on Regulations of Radio and Television Servicesin Vietnam?

For Clients Speaking English

ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam.