ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

CHỨNG MINH NHÂN DÂN 9 SỐ ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐẾN KHI NÀO?

Câu hỏi: Tôi sinh năm 1954. Chứng minh nhân dân của tôi có 9 số, vừa được làm năm 2016, hạn sử dụng là năm 2031. Mới đây, Công an xã đến bảo với tôi rằng thẻ này của tôi chỉ còn hạn đến 01/7/2021 nên bây giờ tôi phải đi làm Căn cước công dân gắn chip, nếu không, sau ngày 01/7/2021 tôi vẫn phải đi đổi thẻ. Công an xã nói như thế có đúng không?


Điều 5 Nghị định 05/1999/NĐ-CP quy định những trường hợp sau đây phải làm thủ tục đổi Chứng minh nhân dân:

- Chứng minh nhân dân hết thời hạn sử dụng;

- Chứng minh nhân dân hư hỏng không sử dụng được;

- Thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh;

- Thay đổi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Thay đổi đặc điểm nhận dạng.

chung minh nhan dan 9 so bao gio het han

Chứng minh nhân dân 9 số bao giờ hết hạn? (Ảnh minh họa)

Theo Thông tư 04/1999/TT-BCA hướng dẫn Nghị định 05/1999/NĐ-CP về Chứng minh nhân dân, thời hạn sử dụng của Chứng minh nhân dân được quy định như sau:

CMND có giá trị sử dụng 15 năm. Mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Nếu có sự thay đổi hoặc bị mất CMND thì được làm thủ tục đổi, cấp lại một giấy CMND khác nhưng số ghi trên CMND vẫn giữ đúng theo số ghi trên CMND đã cấp.

Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 38 Luật Căn cước công dân 2014:

Chứng minh nhân dân đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định; khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ Căn cước công dân.

Như vậy, Chứng minh nhân dân 9 số có thời hạn 15 năm. Công dân không phải đổi Chứng minh nhân dân nếu thẻ vẫn còn hạn. Hiện nay, không có văn bản nào quy định rằng Chứng minh nhân dân 9 số chỉ có thời hạn đến 01/7/2021. Mốc 01/7/2021 thực ra là mốc Bộ Công an không cấp mới Sổ hộ khẩu giấy, chuyển sang quản lý công dân bằng mã định danh cá nhân (12 số trên thẻ Căn cước công dân).

Đây cũng là mốc Bộ Công an cam kết cơ bản hoàn thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Vì thế, mục tiêu của Bộ Công an là cấp được 50 triệu thẻ Căn cước công dân gắn chip trước 01/7/2021. Chính vì những lý do trên, Công an các tỉnh, quận, huyện… đang cấp tốc cấp Căn cước công dân cả cuối tuần, thậm chí cả ngày lẫn đêm…

Bởi vậy, tại nhiều địa phương, ngoài việc vận động người dân đi làm Căn cước công dân thì cán bộ lại khiến công dân hiểu sai về hạn sử dụng của thẻ Chứng minh nhân dân.

Về trường hợp của bác, bác có thể lựa chọn làm Căn cước công dân gắn chip ngay bây giờ (hiện nay không cấp Chứng minh nhân dân mà đã cấp Căn cước công dân gắn chip trên toàn quốc) hoặc đợi đến khi Chứng minh nhân dân hết hạn (15 năm kể từ ngày cấp ghi trên mặt sau của thẻ).

Nếu bác đi đổi Chứng minh nhân dân sang Căn cước công dân bây giờ sẽ có một số thuận lợi như: được cấp lưu động về tận xã, phường; lệ phí cấp thẻ chỉ còn một nửa… Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, các điểm cấp thẻ hầu như đông và quá tải. Vì thế, thời gian cấp thẻ cũng lâu hơn so với quy định của pháp luật. Bác có thể cân nhắc những mặt lợi và hại để xác định có cần làm thẻ ngay bây giờ không.

Nếu có băn khoăn về các quy định liên quan đến Căn cước công dân gắn chip, bạn đọc vui lòng liên hệ: 1900.6192 để được hỗ trợ.

Nguồn: LuatVietnam

 

Thứ Ba, 27 tháng 4, 2021

Người nước ngoài có thể ủy quyền thực hiện chuyển nhượng nhà ở đã mua tại Việt Nam không?

Trong tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang có những diễn biến phức tạp, Chính Phủ vẫn tiếp tục thực hiện các chính sách hạn chế nhập cảnh vào Việt Nam nên có rất nhiều giao dịch bị hủy hoặc bị hoãn lại. Điều đó đã gây ra không ít trở ngại cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài có nhu cầu thực hiện giao dịch tại Việt Nam. Trong bài viết này chúng tôi đề cập đến giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở đối với cá nhân nước ngoài khi không thể nhập cảnh vào Việt Nam để tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng và các giao dịch có liên quan khác.


Căn cứ theo pháp luật về nhà ở, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, trước khi hết hạn sở hữu nhà thì chủ sở hữu có thể tặng cho hoặc bán nhà ở này cho các đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; nếu quá thời hạn được sở hữu nhà ở mà chủ sở hữu không thực hiện bán, tặng cho thì nhà ở đó thuộc sở hữu nhà nước. Về thời hạn sở hữu nhà, nếu tổ chức, cá nhân nước ngoài bán hoặc tặng cho nhà ở cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì bên mua, bên nhận tặng cho được sở hữu nhà ở ổn định lâu dài. Trường hợp bán hoặc tặng cho nhà ở cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì bên mua, bên nhận tặng cho chỉ được sở hữu nhà ở trong thời hạn còn lại; khi hết thời hạn sở hữu còn lại mà chủ sở hữu có nhu cầu gia hạn thêm thì được Nhà nước xem xét, gia hạn thêm. Bên bán nhà ở phải nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo quy định của pháp luật về điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở thì bên bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại phải có điều kiện sau đây:

-Là chủ sở hữu nhà ở hoặc người được chủ sở hữu cho phép, ủy quyền để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở và pháp luật về dân sự; trường hợp chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải là người đã mua nhà ở của chủ đầu tư hoặc người đã nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở;


-Nếu là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự; nếu là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân.

Điều 195 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật.”

Khoản 2 Điều 55 Luật Công chứng 2014 quy định: “Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền”.

Như vậy, để có thể thực hiện giao dịch mua bán nhà ở, các bên tham gia giao dịch nhà ở cần thỏa thuận lập hợp đồng mua bán hoặc văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại. Trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở là người nước ngoài không thể nhập cảnh trực tiếp tham gia ký kết hợp đồng thì có thể ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác ở Việt Nam thực hiện thay. Tuy nhiên, văn bản ủy quyền cần phải được công chứng tại cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp văn bản ủy quyền được công chứng tại cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài thì cần phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định thì văn bản đó mới có thể được sử dụng tại Việt Nam.

 

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2021

Chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Chấm dứt hợp đồng lao động là sự kiện chấm dứt quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trong đó, có nhiều trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định như: hết hạn hợp đồng lao động, đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động, hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã,….



Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động. Cụ thể, phương án sử dụng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: Danh sách và số lượng người lao động tiếp tục được sử dụng, người lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng; danh sách và số lượng người lao động nghỉ hưu; danh sách và số lượng người lao động được chuyển sang làm việc không trọn thời gian; người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động và các biện pháp và nguồn tài chính bảo đảm thực hiện phương án.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động. Theo đó, người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó, tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Lưu ý, việc chấm dứt đối với nhiều người lao động theo quy định trên chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.



Chi phí hẹn hò - Ai nên thanh toán???


Mình xin đưa ra quan điểm cá nhân ngắn gọn theo 2 khía cạnh nhé:

1/ Kinh tế:

a/ Trong quá khứ, đàn ông đóng vai trò chủ đạo về kinh tế trong gia đình, họ là nguồn thu nhập chính, hay thậm chí là duy nhất. Mọi công việc đều dành cho đàn ông, họ không vấp phải sự cạnh tranh việc làm với phái nữ.

Phụ nữ thời bấy giờ chưa trực tiếp làm ra tiền. Do đó nghĩa vụ thanh toán các chi phí giữa 2 người tất nhiên sẽ do đàn ông chi trả là điều đương nhiên.

b/ Hiện nay, việc phụ nữ có khả năng kiếm tiền 1 cách sòng phẳng hoặc thậm chí vượt trội so với bạn trai/chồng mình không còn là việc hiếm.

Cơ hội việc làm chia đều cho 2 giới, nói cách khác: miếng bánh việc làm hiện nay đã bị chia ra cho nữ giới. Nữ giới có quyền kiếm tiền và dĩ nhiên họ cũng phát sinh nghĩa vụ phải thanh toán chi phí.

Như vậy thì tại sao vẫn còn quan điểm mặc đinh trách nhiệm thanh toán trong các cuộc hẹn lại phải là phái đàn ông?

 

2/ Sự cố gắng và đóng góp:

Tất nhiên sau khi kết thúc mục 1, nhiều bạn sẽ có quan điểm: đàn ông thanh toán đề thể hiện sự galang, sự không keo kiệt, sự bản lĩnh có thể bảo vệ, chăm lo cho bạn gái ,..... bla bla.

Quan điểm cá nhân mình:

Khi tham gia vào 1 mối quan hệ, ai cũng muốn được quan tâm, tin tưởng và yêu thương. Việc mình luôn là người thanh toán dễ khiến đàn ông cảm thấy họ đang bị lợi dụng hoặc đây là quan hệ 1 chiều.

Cái chúng tôi cần không phải là các bạn share đều một cách “cạn tàu ráo máng”, mà là “sự cố gắng và đóng góp”.

Nói đơn giản: hãy làm mọi việc cùng nhau nhiều nhất có thể, hay đóng góp (cả về vật chất lẫn tinh thần) nhiều nhất có thể.

Giả sử khi cả 2 có ý định đi du lịch đâu đó, tổng chi phí chuyến đi là 10 triệu, nếu bạn gái có khả năng đóng góp 2 triệu, hãy chủ động đề xuất để được đóng góp. Bạn nam sẽ thấy rất vui vì bạn có “sự cố gắng và đóng góp” cho chuyến đi nói chung và mối quan hệ giữa 2 người nói riêng. Còn bạn nữ chắc chắn sẽ không cảm thấy mình bị phụ thuộc và mối quan giữa 2 bạn sẽ tuyệt vời hơn rất nhiều.

 

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

Thẩm quyền xử phạt vi phạm giao thông của Cảnh sát giao thông

Thẩm quyền xử phạt vi phạm giao thông của cảnh sát giao thông theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt


Căn cứ theo Điều 76 Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì thẩm quyền xử phạt vi phạm giao thông của Công an nhân dân (bao gồm Cảnh sát giao thông và các lực lượng khác) cụ thể như sau:

i) Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 400 ngàn đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 500.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt.

ii) Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 1,2 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 1,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt.

Nếu còn thắc mắc hoặc cần tư vấn, vui lòng gọi chúng tôi

iii) Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng Trạm Công an cửa khẩu, khu chế xuất có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 2 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 2,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền 2 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 2,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

iv) Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát giao thông; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt; Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 8 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 15 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền 8 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 15 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c và e khoản 1 Điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.

v) Giám đốc Công an cấp tỉnh có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 20 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 37,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền 20 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 37,5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, đ và e Khoản 1 Điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.

vi). Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 40 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 75 triệu đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;

– Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

– Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

– Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và e khoản 1 điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.

 

Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2021

Sử dụng đèn xi nhan như thế nào để không bị CSGT xử phạt?

 Chúng ta phải sử dụng đèn xi nhan như thế nào để không bị CSGT xử phạt?

Theo Khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ 2008 có quy định về sử dụng đèn xi nhan như sau: “Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.”.

Nếu người tham gia giao thông không sử dụng đèn xi nhan đúng cách theo quy định sẽ bị xử phạt theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 5; điểm a Khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt như sau: Nếu người tham gia giao thông không sử dụng đèn xi nhan đúng cách nêu trên sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng – 1.000.000 đồng  khi lái ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô; 400.000 đồng – 600.000 đồng khi lái mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về việc hướng dẫn sử dụng đèn xi nhan đúng cách để không bị CSGT xử phạt. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn hoặc hỗ trợ chi tiết.

Quy định của pháp luật về quyền cá nhân đối với hình ảnh

uyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình là quyền nhân thân cơ bản nằm trong nhóm các quyền dân sự của cá nhân, vậy pháp luật quy định như thế nào về quyền này?

Khoản 1 Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền cá nhân đối với hình ảnh như sau: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý. Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Như vậy, khi sử dụng hình ảnh của một người phải được người đó đồng ý, nếu tự ý sử dụng hình ảnh cá nhân, người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp sử dụng trái phép với mục đích phi lợi nhuận.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 còn quy định về các trường hợp được phép sử dụng hình ảnh mà không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ: “Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.

Như vậy, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình, theo đó, việc sử dụng hình ảnh cá nhân phải được sự đồng ý của người có hình ảnh. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ chỉ áp dụng với trường hợp vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng hoặc trong các hoạt động công khai công cộng mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Điều 51 nghị định 158/2013/NĐ-CP  quy định về mức phạt khi vi phạm các hoạt động cấm trong hoạt động quảng cáo, trong đó khoản 3 quy định: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: “Quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định; Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép”. Nghiêm trọng hơn, nếu trường hợp bên sử dụng hình ảnh cá nhân khi chưa được sự đồng ý có thể còn đối mặt với việc bị xử lý hình sự nếu rơi vào điểm b khoản 1 Điều 288 về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính.