ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2022

Các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp đang là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm tại Việt Nam, nhất là trong bối cảnh quốc gia hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới. Khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ tạo sự tăng trưởng kinh tế, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội. Từ các ý tưởng khởi nghiệp dần dần xuất hiện các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam. Mỗi năm Việt Nam có hàng trăm doanh nghiệp được thành lập mới, trong đó số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số. Vì là các doanh nghiệp nhỏ và vừa nên việc đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn từ các doanh nghiệp truyền thống lớn cũng như các đối thủ cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi.


Việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là căn cứ để Nhà nước có các chính sách hỗ trợ giúp các doanh nghiệp có thể đối mặt với sức ép cạnh tranh trên thị trường. Các tiêu chí để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: lĩnh vực hoạt động, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm, tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.

Thứ nhất, doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng.

Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ.

Thứ ba, doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ.

Vì có số lượng doanh nghiệp chiếm đa số trên thị trường Việt Nam nên Nhà nước đã đưa ra các chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa như: hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ thông tin, hỗ trợ tư vấn, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới. Với khả năng tạo ra cơ hội làm ăn kinh doanh và việc làm hiệu quả giúp cho mô hình doanh nghiệp này ngày càng được khuyến khích phát triển và nhận được sự hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước để mở rộng và phát triển được mô hình doanh nghiệp này tại nước ta. 

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2022

Tiềm năng thu hút đầu tư khi iPhone có thể được lắp ráp ở Việt Nam

iPhone là tên của dòng điện thoại thông minh đến từ Apple – một tập đoàn công nghệ lớn của Mỹ. iPhone là sản phẩm công nghệ cao cấp và được nhiều người trên khắp thế giới ưa chuộng sử dụng. Hiện nay, Apple lắp ráp phần lớn iPhone ở nhà máy đặt tại Trung Quốc và linh kiện được sản xuất ở Ấn Độ, Thái Lan, Mỹ và nhiều nơi khác.

Pegatron là một trong ba đối tác sản xuất iPhone cho Apple đứng trước áp lực phải mở rộng sản xuất ra ngoài Trung Quốc. Ngoài ra, việc Trung Quốc áp dụng các biện pháp kiểm soát Covid đã thúc đẩy kế hoạch mở rộng sản xuất càng mạnh mẽ hơn. Theo đó, một trong những địa điểm dự kiến được lựa chọn là Việt Nam.

Mặc dù ở Trung Quốc các lệnh giãn cách xã hội nhằm kiểm soát Covid-19 đã dần được gỡ bỏ tuy nhiên, tình trạng thiếu hụt lao động vẫn diễn ra trầm trọng. Mặt khác, vào mùa cao điểm nhu cầu lao động để tăng cường sản xuất tăng cao. Do đó, việc mở rộng hoạt động sản xuất ra các khu vực khác như Việt Nam là giải pháp giải cần thiết để quyết tình trạng thiếu lao động.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều nguyên nhân khác nhau để Pegatron đặt nhà máy tại Việt Nam. Một trong những nguyên nhân được đề cập đến là các bên liên quan muốn giảm sự tập trung sản xuất vào các khu vực hiện tại ở và hạn chế khó khăn trong việc tuyển dụng nhân sự. Trong khi đó, Việt Nam có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào và các khu vực sản xuất được quy hoạch và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài

Hơn nữa, trước đây Pegatron đã có ý định mở rộng dây chuyền sản xuất sang Việt Nam và Pegatron đang xây dựng nhà máy tại Hải Phòng. Ngoài ra, nhiều đối tác lắp ráp của Apple cũng đã có nhà máy ở Việt Nam, nhưng chưa có nhà máy nào lắp ráp iPhone. Do đó, nếu iPhone được lắp ráp ở Việt Nam sẽ tạo hiệu ứng mạnh mẽ thu hút các nhà đầu tư các nước tham gia đầu tư tại Việt Nam. Theo đó, đây cũng sẽ là cơ hội lớn cho thị trường việc làm của người lao động tại Việt Nam và thúc đẩy đầu tư phát triển.

Như vậy, thị trường Việt Nam đang dần trở thành mục tiêu đầu tư của nhiều doanh nghiệp lớn của nước ngoài. Do đó, bên cạnh các chính sách mở cửa của chính phủ thì doanh nghiệp và người lao động Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa để phát huy năng lực khi tham gia hợp tác và làm việc cho các doanh nghiệp lớn như Apple.

(Theo Vnexpress)  

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022

Điều kiện kết hôn năm 2022

Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Vậy điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn được quy định như thế nào?

1. Điều kiện kết hôn năm 2022

Nam, nữ kết hôn phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cụ thể:
- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
- Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
Một người bị coi là mất năng lực hành vi dân sự nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi;
- Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn sau:
+ Kết hôn giả tạo: Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.
+ Tảo hôn: Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn.
+ Cưỡng ép kết hôn: Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ.
+ Lừa dối kết hôn;
+ Cản trở kết hôn: Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.
+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

2. Đăng ký kết hôn thế nào cho hợp pháp?

- Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và pháp luật về hộ tịch.
- Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.
- Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.
(Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)

3. Vi phạm điều kiện kết hôn bị xử phạt thế nào?

Theo quy định tại Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP thì việc vi phạm điều kiện kết hôn tùy vào từng hành vi cụ thể mà bị xử phạt như sau:
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
+ Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
+ Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
+ Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
+ Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
+ Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;
+ Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.

Nguồn : Thư viện pháp luật 

Người 'hôi vàng' có thể bị phạt tù

Luật sư cho rằng những người "hôi vàng" do tên cướp vứt ra đường trong vụ cầm súng AK tấn công hai tiệm kim hoàn có thể bị xử lý hình sự về tội Chiếm giữ trái phép tài sản.

 


Trưa 31/7, Ngô Văn Quốc cầm súng AK47 xông vào tiệm vàng Thái Lợi và Hoàng Đức ở chợ Đông Ba, thành phố Huế bắn vỡ tủ trưng bày. Số vàng cướp được, Quốc ném ra đường Trần Hưng Đạo, hô lớn "vàng cho người nghèo". Thấy vàng ném ra đường, một số người bất chấp nguy hiểm lao vào nhặt.

Sáng nay, Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kêu gọi những người nhặt vàng trả lại tang vật để phục vụ điều tra vụ án.

Trung tướng Trần Văn Độ, nguyên Phó Chánh án TAND Tối cao, Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương, cho biết hành động của người "hôi vàng" là vi phạm pháp luật - ngang nhiên lấy tài sản do người khác phạm tội mà có. 

Trung tướng Độ khuyên người dân nếu "lỡ" lấy vàng nên mang đến cơ quan công an, nơi đang điều tra vụ án, trả lại để tránh những hệ luỵ xấu xảy ra. Không chỉ ở vụ án này, mà tất cả trường hợp khi nhặt được tài sản của người khác, không do mình sở hữu, đều phải mang trả lại, nếu không sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cùng quan điểm, luật sư Quách Thành Lực, Công ty Luật Pháp Trị, cho hay Bộ luật Hình sự xác định các dấu hiệu cơ bản của tôi Cướp tài sản như sau: "Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản....".

Bởi vậy, việc nghi phạm Quốc bắn vỡ tủ kính đựng hàng được coi là hành vi sử dụng vũ lực. Khi Quốc mang vàng ra khỏi quầy, mục đích chiếm đoạt đã được thể hiện trên thực tế và tội Cướp tài sản đã hoàn thành.

Hành động ném vàng ra đường của Quốc không ảnh hưởng hay làm mất đi mục đích chiếm đoạt của người phạm tội, không ảnh hưởng việc xác định trách nhiệm hình sự của tội Cướp tài sản. Khi đó nếu ai đó cho rằng được Quốc phân phát nên vô tư nhặt vàng là không đúng, bởi số vàng này do phạm tội mà có và đang là tang vật vụ án. 

Theo luật sư Lực, người nào nhặt được vàng không giao nộp dù được cơ quan chức năng yêu cầu thì có thể thể bị xử phạt hành chính về hành vi Chiếm giữ trái phép tài sản. Nếu số vàng trị giá dưới 10 triệu đồng, họ sẽ bị xử phạt hành chính 3-5 triệu đồng.

Trường hợp người dân "hôi vàng" có giá trị trên 10 triệu đồng có thể bị xử lý hình sự về tội Chiếm giữ trái phép tài sản, theo điều 176 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt 1-5 năm. 

Tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, cho biết không chỉ người nhặt vàng mà những người mua lại số vàng đó cũng có thể bị xử lý theo quy định pháp luật về hành vi Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Một trường hợp khác, khi người dân nhặt vàng mà bị hại yêu cầu trả lại vẫn không trả và nhanh chóng cầm vàng tẩu thoát còn có dấu hiệu của tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản hoặc Cướp giật tài sản...

"Khi nhặt được tài sản của người khác đánh rơi hay bỏ quên cũng không được phép tự ý lấy làm tài sản của riêng, phải thông báo và giao nộp cho chính quyền địa phương. Lòng tham khi nhặt được tài sản do bỏ quên, đánh rơi hay như trong vụ án "hôi vàng" trên có thể phải trả giá bằng những chế tài của pháp luật", ông Cường nói

Theo: vnexpress 

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2022

Britney ký hợp đồng tiền hôn nhân bảo vệ khối tài sản 60 triệu USD


Trước khi cưới, ngôi sao nhạc pop Britney Spears đã làm hợp đồng tiền hôn nhân chặt chẽ với nam diễn viên Sam Asghari để đảm bảo không xảy ra tranh chấp tài sản nếu ly hôn.

 


Britney kết hôn với nam diễn viên kém 13 tuổi sau 6 năm hẹn hò

TMZ đưa tin, Britney Spears bảo toàn khối tài sản 60 triệu USD hiện có. Tương lai, nữ ca sĩ 40 tuổi sẽ còn kiếm được nhiều hơn nữa và cô sở hữu toàn bộ số tiền này. Trong trường hợp hôn nhân tan vỡ, Sam Asghari không nhận được đồng nào từ vợ.

Trang Pagesix tiết lộ thêm, ý tưởng hợp đồng tiền hôn nhân là của Britney. Cô đã nhờ luật sư riêng Mathew Rosengart thuê một luật sư gia đình để thảo hợp đồng ngay khi nhận lời cầu hôn Sam vào tháng 9 năm ngoái.

Thời điểm đó, Sam Asghari cũng tán thành điều này. Khi thấy mọi người lo lắng khuyên Britney làm hợp đồng bảo vệ khối tài sản của mình, nam diễn viên 28 tuổi viết trên Instagram: "Cảm ơn các bạn quan tâm tới hợp đồng tiền hôn nhân. Tất nhiên chúng tôi đang thảo một bản rất chặt chẽ để bảo vệ chiếc xe Jeep và bộ sưu tập giày của tôi, phòng trường hợp một ngày nào đó cô ấy bỏ tôi".

Sam Asghari được cho là hiện có tài sản khoảng một triệu USD. Thu nhập của anh đến từ công việc làm huấn luyện viên thể hình, tham gia show truyền hình và đóng phim.

Britney và Sam kết hôn ngày 9/6 tại dinh thự riêng 7 triệu USD của ngôi sao nhạc pop tại California. Giọng ca Lucky cho biết cô đã có hôn lễ đẹp như mơ và xúc động trước sự ủng hộ của mọi người dành cho mình. Những người bạn nghệ sĩ thân thiết đã tới dự đám cưới của cô gồm Madonna, Paris Hilton, Selena Gomez, Drew Barrymore...

Đây là cuộc hôn nhân thứ ba của Britney. Năm 2004, cô từng kết hôn ngẫu hứng với người bạn thời thơ ấu Jason Alexander tại nhà thờ ở Las Vegas. Jason kể Britney rủ anh tới đó làm đám cưới, sau đó mới thông báo cho gia đình biết. Nhà Britney tá hỏa khi nghe tin vì nữ ca sĩ không hề làm hợp đồng tiền hôn nhân. Theo tiết lộ của Jason, mẹ Britney đã lừa anh ký giấy hủy bỏ cuộc hôn nhân này sau 55 ngày cưới. Sau này, Jason Alexander vẫn luôn dõi theo Britney, ủng hộ nữ ca sĩ trong cuộc đấu tranh thoát khỏi quyền giám hộ. Tuy nhiên vào ngày cưới của Britney với Sam, Jason đã đột nhập dinh thự của cô phá đám và bị bắt giữ.

Cuộc hôn nhân thứ hai của Britney là với vũ công Kevin Federline từ cuối năm 2004 đến 2007. Lần này, công chúa nhạc pop đã cẩn thận làm hợp đồng tiền hôn nhân. Britney và Kevin có hai người con trai chung, hiện ở với bố. Britney chu cấp hàng chục nghìn USD mỗi tháng hỗ trợ chồng cũ nuôi con.

Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Hiệp định UKVFTA- Cơ hội hợp tác Việt Nam - Anh

Ngày 29 tháng 12 năm 2020, đại diện Chính phủ Việt Nam và Vương quốc Anh đã chính thức ký kết Hiệp định thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA) tại Luân Đôn, Vương quốc Anh.  Việc này thành công sẽ mở ra cơ hội trao đổi hàng hoá, và thu hút các nhà đầu tư Vương quốc Anh vào Việt nam thành lập công ty, xin đăng ký đầu tư lập nhà máy và các cơ sở sản xuất.


Sau ngày 31/12/2020, hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) sẽ không còn được áp dụng với Vương quốc Anh do Brexit, vì vậy việc thực hiện ký một hiệp định thương mại tự do giữa hai nước là điều cần thiết để giữ vững và phát triển sự hợp tác kinh tế. Hiệp định UKVFTA được nhận định sẽ giúp giảm thuế nhập khẩu đối với hàng hóa từ Anh vào Việt Nam và ngược lại. Bên cạnh đó, những cam kết trong Hiệp định sẽ giúp thương mại, đầu tư giữa hai nước phát triển hơn trong thời gian tới.

Trong thời gian qua, Anh là đối tác thương mại lớn của Việt Nam tại Châu Âu, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đã tăng đáng kể nhất là các sản phẩm về thủy sản, may mặc, đồ gỗ, nông sản… Bên cạnh những cơ hội về thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, mở rộng nguồn cung hàng hóa, Hiệp định UKVFTA cũng đặt ra những thách thức nhất định trong việc đáp ứng chất lượng hàng hóa để đủ điều kiện áp dụng các ưu đãi thuế được đặt ra trong Hệp định.

Để có thể tận dụng tối đa những hiệu quả kinh tế từ Hiệp định UKVFTA, việc có các nhà đầu tư từ Anh đến thực hiện đầu tư, sản xuất những mặt hàng đáp ứng đủ điều kiện chất lượng, nhu cầu cho thị trường Anh là điều cần thiết đối với Việt Nam. Bên cạnh đó, ngoài ra những lợi thế của các nhà đầu tư Anh như tài chính, dược phẩm, hóa chất,… là những ngành nghề Việt Nam còn yếu. Việc đầu tư vào Việt Nam sẽ giúp cho nhà đầu tư có thể tận dụng được nguồn lao động tay nghề cao, cơ sở vật chất hoàn thiện cũng như các chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam để đem lại nguồn lợi tốt nhất cho mình. Trên cơ sở đó, Việt Nam cũng học hỏi được cách vận hành, quản lý, kinh nghiệm từ các nhà đầu tư Anh, từ đó giúp phát triển thị trường trong nước. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần phải nhập khẩu các nguyên liệu cho các ngành nghề sản xuất từ Anh như các vật liệu dệt may, thuộc da để đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc xuất xứ để có thể tận dụng tốt nhất những ưu đãi từ Hiệp định.

Với việc đàm phán Hiệp định, đây chính là bước khởi đầu tốt đẹp cho mối quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam và Anh trong giai đoạn có nhiều khó khăn vì dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế. Ngoài ra, đây là bước tiến để phát triển hơn nữa mối quan hệ ngoại giao, văn hóa, giáo dục giữa hai nước trong tương lai.

Công ty Luật TNHH ANT (ANT Lawyers) là công ty luật Việt Nam cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp tại Việt Nam. ANT Lawyers do các luật sư và cộng sự có kinh nghiệm và chuyên môn cao về pháp lý điều hành. Chúng tôi cung cấp luật sư nói tiếng Anh khi có yêu cầu.

Biểu thuế ưu đãi xuất nhập khẩu theo EVFTA giai đoạn 2020-2022

 Ngày 18 tháng 9 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 111/2020/NĐ-CP về Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu(Hiệp định EVFTA) giai đoạn 2020 – 2022.


Theo đó, Nghị định quy định Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định EVFTA và điều kiện được hưởng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định này. Cụ thể:

Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này gồm mã hàng, mô tả hàng hóa, thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi theo các giai đoạn khi xuất khẩu sang lãnh thổ theo quy định tại Hiệp định EVFTA, bao gồm: Lãnh thổ thành viên Liên minh châu Âu; Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len đối với từng mã hàng.

Hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam được áp dụng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi theo quy định phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: được nhập khẩu vào các lãnh thổ theo quy định tại Hiệp định EVFTA, bao gồm: Lãnh thổ thành viên Liên minh châu Âu, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len; có chứng từ vận tải (bản sao) thể hiện đích đến là các lãnh thổ nêu trên; có tờ khai hải quan nhập khẩu của lô hàng xuất khẩu có xuất xứ Việt Nam nhập khẩu vào các lãnh thổ nêu trên (bản sao và bản dịch tiếng Anh hoặc tiếng Việt trong trường hợp ngôn ngữ sử dụng trên tờ khai không phải là tiếng Anh).

Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định EVFTA quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này gồm mã hàng, mô tả hàng hóa, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo các giai đoạn được nhập khẩu từ lãnh thổ thành viên Liên minh châu Âu; Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len; Công quốc An-đô-ra; Cộng hòa San Ma-ri-nô và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước) đối với từng mã hàng.

Hàng hóa nhập khẩu được áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định EVFTA phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này; được nhập khẩu vào Việt Nam từ lãnh thổ thành viên Liên minh châu Âu; Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len; Công quốc An-đô-ra; Cộng hòa San Ma-ri-nô; và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước); đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa và có chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hoá theo quy định của Hiệp định EVFTA.

Các quy định tại Nghị định này chỉ áp dụng đối với hàng hoá được xuất khẩu từ Việt Nam vào Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len và hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam từ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len trong giai đoạn kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Công ty Luật TNHH ANT (ANT Lawyers) là công ty luật Việt Nam cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp tại Việt Nam. ANT Lawyers do các luật sư và cộng sự có kinh nghiệm và chuyên môn cao về pháp lý điều hành. Chúng tôi cung cấp luật sư nói tiếng Anh khi có yêu cầu